LS Law Firm luôn làm việc theo nhóm

LS Law Firm luôn làm việc theo nhóm

Mỗi vụ việc tại LS Law Firm đều được xử lý bởi nhóm 2-3 người gồm luật sư và trợ lý, đảm bảo tiến độ và chất lượng. Với các vụ phức tạp, quy mô lớn hay cần xử lý gấp, chúng tôi linh hoạt tăng cường nhân sự để đáp ứng hiệu quả.

LS Law Firm luôn nỗ lực phát triển

LS Law Firm luôn nỗ lực phát triển

Hằng năm, đội ngũ của LS Law Firm đều tham gia bồi dưỡng chuyên môn tại Đoàn Luật sư TP.HCM. Bên cạnh đó, các luật sư cũng tổ chức chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm nhằm nâng cao năng lực toàn đội.

Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm và kiến thức

Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm và kiến thức

LS Law Firm quy tụ những luật sư nhiều năm kinh nghiệm, đã xử lý thành công nhiều vụ việc phức tạp. Nhờ kiến thức toàn diện, chúng tôi cung cấp dịch vụ pháp lý đa lĩnh vực, đáp ứng trọn vẹn nhu cầu của khách hàng.

Tính pháp lý của hợp đồng đặt cọc tiền giữ chỗ mua bất động sản

Trong lĩnh vực bất động sản, việc khách hàng bỏ ra một khoản tiền để đặt cọc, giữ chỗ vị trí ưng ý và để nhận được các ưu đãi của chủ đầu tư, đơn vị phân phối trở nên phổ biến trong hầu hết các giao dịch bất động sản.

Thực tế Luật Kinh doanh Bất động sản không quy định về hợp đồng đặt cọc, giữ chỗ mà hợp đồng đặt cọc được đề cập trong Bộ luật Dân sự.

Cụ thể, khoản 1 Điều 328, Bộ luật Dân sự 2015 (“BLDS 2015”) quy định: “Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.”

Tại khoản 2 Điều 328 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Thực chất đặt cọc là một giao dịch dân sự bảo đảm nhằm mục đích giao kết hợp đồng mà ở đây là để bảo đảm thực hiện việc chuyển nhượng bất động sản. Xét về mặt pháp lý, nếu xác định thỏa thuận đặt tiền giữ chỗ mua bất động sản là giao dịch đặt cọc thì đối tượng của hợp đồng đặt cọc là bất động sản hoàn toàn không tồn tại và không đủ điều kiện pháp lý để bán theo luật tại thời điểm ký thỏa thuận đặt cọc. Do vậy, thỏa thuận đặt cọc này sẽ bị vô hiệu về mặt pháp lý.

Căn cứ khoản 5 Điều 8 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 quy định về các hành vi bị cấm, trong đó cấm “Huy động, chiếm dụng vốn trái phép; sử dụng vốn huy động của tổ chức, cá nhân và tiền ứng trước của bên mua, bên thuê, bên thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai không đúng mục đích theo cam kết”.

Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 19 của Nghị định số 99/2015/NĐ-CP cũng có quy định về việc cấm chủ đầu tư áp dụng hình thức huy động vốn để ưu tiên đăng ký, đặt cọc, hưởng quyền mua nhà ở hoặc để phân chia quyền sử dụng đất trong dự án, cụ thể:

“Việc ký hợp đồng huy động vốn cho phát triển nhà ở thương mại phải tuân thủ các quy định sau đây:

Trường hợp ký hợp đồng huy động vốn theo quy định tại Khoản 2 Điều 69 của Luật Nhà ở thì phải đáp ứng các hình thức, điều kiện theo quy định của Luật Nhà ở và quy định tại Khoản 3 Điều này. Bên tham gia góp vốn, hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh, liên doanh, liên kết quy định tại điểm này chỉ được phân chia lợi nhuận (bằng tiền hoặc cổ phiếu) trên cơ sở tỷ lệ vốn góp theo thỏa thuận trong hợp đồng; chủ đầu tư không được áp dụng hình thức huy động vốn quy định tại điểm này hoặc các hình thức huy động vốn khác để phân chia sản phẩm nhà ở hoặc để ưu tiên đăng ký, đặt cọc, hưởng quyền mua nhà ở hoặc để phân chia quyền sử dụng đất trong dự án cho bên được huy động vốn, trừ trường hợp góp vốn thành lập pháp nhân mới để được Nhà nước giao làm chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở;”

Như vậy, hợp đồng đặt cọc giữ chỗ là hình thức huy động vốn trái pháp luật của chủ đầu tư nhằm đánh tráo các khái niệm pháp lý dẫn đến sự hiểu sai cho khách hàng, chủ đầu tư ký hợp đồng huy động vốn để phát triển nhà ở bằng phương thức thỏa thuận đặt tiền giữ chỗ mua bất động sản hoàn toàn không được pháp luật công nhận, chủ đầu tư có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật và phải bồi thường thiệt hại cho người tham gia góp vốn (nếu có).

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH LS và Cộng sự (“LS Law Firm”)

Trên đây là những nội dung cơ bản về tính pháp lý của hợp đồng đặt cọc tiền giữ chỗ mua bất động sản dựa trên quy định của pháp luật tại thời điểm thực hiện bài viết. Nếu Quý khách có nhu cầu cần tư vấn về vấn đề nêu trên hoặc đang quan tâm đến các dịch vụ pháp lý khác, hãy liên hệ ngay với LS Law Firm qua Email: lslawfirm2014@gmail.com để được hỗ trợ kịp thời.

Lưu ý: Bài viết trên chỉ mang tính chất tham khảo, mọi việc sao chép, sử dụng bài viết để làm chứng cứ riêng trong bất kỳ vụ, việc nào đều xem như không được phép./.

Đối tác của chúng tôi